Luật Giao dịch điện tử 2023 (20/2023/QH15): các điều về hợp đồng điện tử
Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 22/6/2023, có hiệu lực từ 01/7/2024 (Điều 52), thay thế Luật Giao dịch điện tử 2005. Luật gồm 8 chương, 53 điều. Dưới đây là tóm lược các điều liên quan trực tiếp đến hợp đồng điện tử.
Cấu trúc Luật
- Chương I: Những quy định chung (Điều 1–6)
- Chương II: Thông điệp dữ liệu (Điều 7–18)
- Chương III: Chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy (Điều 19–33)
- Chương IV: Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử (Điều 34–38)
- Chương V: Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước (Điều 39–44)
- Chương VI–VIII: Hệ thống thông tin, an toàn, quản lý nhà nước, điều khoản thi hành (Điều 45–53)
Chương II: Thông điệp dữ liệu
Điều 8. Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận chỉ vì nó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Điều 9. Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản. Khi pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản, thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông tin chứa trong đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu.
Điều 10. Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc. Khi (1) thông tin được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi khởi tạo lần đầu dưới dạng thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh (thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ, hiển thị không làm thay đổi nội dung) và (2) thông tin có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh.
Điều 11. Thông điệp dữ liệu có giá trị dùng làm chứng cứ. Thông điệp dữ liệu được dùng làm chứng cứ theo Luật này và pháp luật về tố tụng. Giá trị chứng cứ được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận, lưu trữ; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận; và các yếu tố phù hợp khác.
Điều 12. Chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu. Bản điện tử chuyển từ giấy phải bảo đảm toàn vẹn thông tin, truy cập được, có ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi và thông tin người chuyển đổi; bản giấy chuyển từ thông điệp dữ liệu phải có ký hiệu và thông tin để xác định hệ thống đã khởi tạo, gửi, nhận, lưu trữ bản gốc. Giá trị pháp lý của bản chuyển đổi theo pháp luật có liên quan; Chính phủ quy định chi tiết.
Điều 13. Hình thức lưu trữ thông điệp dữ liệu. Được lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu khi truy cập và sử dụng được để tham chiếu; lưu đúng khuôn dạng hoặc khuôn dạng thể hiện chính xác nội dung; xác định được nguồn gốc, người gửi, người nhận, thời gian gửi, nhận. Nội dung, thời hạn lưu trữ theo pháp luật về lưu trữ; lưu trữ thông điệp dữ liệu có giá trị như lưu trữ văn bản giấy.
Điều 15–18. Thời điểm, địa điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu; thông điệp được coi là đã gửi khi rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo.
Chương III: Chữ ký điện tử
Điều 22. Chữ ký điện tử. Phân loại theo phạm vi sử dụng: chữ ký điện tử chuyên dùng; chữ ký số công cộng; chữ ký số chuyên dùng công vụ. Chữ ký số phải: xác thực người ký và sự chấp thuận nội dung; dữ liệu tạo chữ ký chỉ gắn duy nhất với nội dung được chấp thuận; thuộc sự kiểm soát duy nhất của người ký; phát hiện được mọi thay đổi sau khi ký; được bảo đảm bằng chứng thư chữ ký số; phương tiện ký bảo đảm dữ liệu tạo chữ ký không bị lộ, giả mạo.
Điều 23. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử. (1) Không bị phủ nhận giá trị chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử. (2) Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị tương đương chữ ký của cá nhân trên văn bản giấy. (3) Khi pháp luật yêu cầu văn bản phải được cơ quan, tổ chức xác nhận, thông điệp dữ liệu ký bằng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số của cơ quan, tổ chức đó đáp ứng yêu cầu này.
Chương IV: Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
Điều 34. Hợp đồng điện tử. Hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện từ sự tương tác giữa hệ thống thông tin tự động với người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành theo thẩm quyền hoặc trình ban hành quy định về hợp đồng điện tử trong lĩnh vực được giao.
Điều 35. Giao kết hợp đồng điện tử. Là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Điều 36. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Các bên có quyền thỏa thuận sử dụng thông điệp dữ liệu, phương tiện điện tử một phần hoặc toàn bộ; có quyền thỏa thuận yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật. Việc giao kết và thực hiện phải tuân thủ Luật này, pháp luật về hợp đồng và pháp luật khác có liên quan.
Điều 37. Việc nhận, gửi, thời điểm, địa điểm nhận, gửi thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử thực hiện theo Điều 15–18 của Luật.
Điều 38. Giá trị pháp lý của thông báo trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Quy định giá trị pháp lý của các thông báo (đề nghị, chấp nhận, thông báo trong quá trình thực hiện) được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử.
Nguồn: Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, Quốc hội, ngày 22/6/2023. Tình trạng: còn hiệu lực. Bản tóm lược theo điều, không thay toàn văn đăng Công báo. Phân tích áp dụng: pháp lý hợp đồng điện tử.